Tại sao Phật giáo phát triển nhanh ở Australia?
  • Tại sao Phật giáo phát triển nhanh ở Australia?
    Darren Nelson

    Tại sao Phật giáo (PG) phát triển nhanh ở Australia (Úc)? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi nghĩ là cần phải giải quyết theo nhiều lớp và sẽ gặp khó khăn nhất định. Vấn đề khó khăn bởi vì nó làm nổi bật là vấn đề thay đổi tâm linh người Australia (Úc) và cung cấp lý do nội tại để giải thích vì sao nó trở thành một vùng đa văn hóa.

    Các nền văn hóa nước ngoài ảnh hưởng tới người Úc Anglo-European đang được chấp nhận, cho dù không phải không có sự phản kháng nào. Mức độ phản kháng trong xã hội Úc có thể được xem như việc thử giấy quỳ, dùng để đo lường sự khoan dung giữa tôn giáo và chính trị trong tương lai ở quốc gia này.

    Vấn đề căn nguyên của PG tại Úc là câu chuyện hấp dẫn về một tôn giáo đầy năng động hiện đang tồn tại cho dù nó không có nhiều lợi thế. Làm thế nào mà một triết lý đã ra đời hơn 2.500 năm, trước Cơ Đốc giáo 500 năm, trước Islam giáo 1.000 năm, vẫn tương thích với đời sống hiện đại của nước Úc? Tất cả các tôn giáo cổ đang lụi tàn trước thực tế hiện tại, như tín ngưỡng thờ mặt trời của người Ai Cập cổ đại, tục hiến tế người của người Maya Nam Mỹ và tôn giáo cổ Xen-tơ thời Trung cổ của người Anh, thế nhưng PG lại tồn tại lâu hơn tất cả.

    PG không tuyên truyền một niềm tin thờ cúng lạ lẫm, hay tìm kiếm người cải đạo giống như sự hăng hái của Phúc âm. Những người Úc đến với PG là hoàn toàn tự nguyện và thường là những học giả ở độ tuổi trung niên được giáo dục nghiêm túc. Họ bị hấp dẫn bởi cảm giác bình yên nội tâm. Vì thế, vùng đất mãi chìm đắm trong thế giới vật chất của nó dường như là sức hấp dẫn PG truyền bá đến đây. Có thể nó giống như những cặp mắt của người xưa mà chúng ta lần đầu tiên nhìn thấy.

    Điều hấp dẫn đáng nói ở đây là mặc dù số lượng Phật tử mới tăng lên trong thời gian gần đây trên khắp nước Úc, nhưng PG thực sự đã giữ một vai trò trong lịch sử nước Úc vào một giai đoạn nào đó. Nó chẳng phải là sự tăng đột biến bởi làn sóng người nhập cư. Thực tế, có một số nhà nhân loại học đã giả thiết rằng PG có thể là tôn giáo ngoại nhập đến Úc sớm nhất trước khi người da trắng đến định cư.

    Trong khoảng thời gian từ 1405 đến 1433, hoàng đế nhà Minh đã cử Trịnh Hòa chỉ huy một hạm đội gồm 62 chiếc thuyền buồm lớn đi khám phá vùng Đông Nam Á. Mặc dù có bằng chứng rằng một số chiếc từ hạm đội đó đã cập bến quần đảo Aru, đến phía Bắc vùng đất Arnhem, nhưng cũng không có gì chứng tỏ chúng đã đến được đất liền.

    Một giả thiết không được chứng minh của giáo sư A.P. Elkin là niềm tin của một vài bộ tộc người Koorie ở vùng đất phía Bắc về hiện tượng tái sinh, đồng bóng và những nét văn hóa tâm linh là bằng chứng trong việc giao lưu sớm nhất với những tín đồ PG. Ngoại trừ những bức tranh trên những hòn đá có thể mô tả những mỏ neo của người Trung Hoa hay hình tượng Đức Phật, thì những bằng chứng về những di cảo hữu hình khác vẫn còn nhìn thấy.

    Tài liệu đầu tiên ghi nhận về những người Phật tử đến Úc là vào năm 1848, trong thời kỳ cơn sốt đào vàng, khi những người làm thuê Trung Hoa được đưa đến quốc gia này để làm việc trong những khu mỏ vàng Victoria. Những nhân công này thường trở về nhà sau 5 năm làm việc. Cho đến năm 1876, cộng đồng Phật giáo đầu tiên định cư lâu dài là dân Sinhalese di cư đến đảo Thursday. Họ là một dân tộc của Sri Lanka, xây dựng ngôi chùa đầu tiên trên đất Úc trong thời kỳ làm thuê cho các đồn điền trồng mía của vùng Queensland.

    Từ những năm 1870 trở đi, nhiều Phật tử người Nhật thuộc phái Shinto cũng đã đến và làm việc trong ngành công nghiệp ngọc trai suốt phía Bắc nước Úc, họ hình thành nên một cộng đồng PG ở Darwin và Broome. Những nghĩa địa PG được giữ gìn và lễ hội được tổ chức. Những số liệu thống kê mà cơ quan chính phủ thu thập, một phần trong cuộc thống kê dân số năm 1891, cho hay vào thời điểm đó, số lượng Phật tử ở Úc (1,2%) có nhỉnh hơn hiện nay chút ít (1,1%).

    Số lượng tín đồ PG có thể tăng thêm nếu như đạo luật về hạn chế người nhập cư năm 1901 không được ban hành để chống lại “hiểm họa da vàng”. Alfred Deakin, người giữ chức Thủ tướng ba nhiệm kỳ, đã dự thảo một bộ luật nhằm lấy lòng những cử tri da trắng chủ trương bài ngoại. Dự luật đó sau này phát triển thành chính sách của người da trắng Úc thi hành trên khắp đất nước.

    Khoảng 50 năm sau đó, những lợi ích của việc giáo dục tâm linh và thực hành Thiền theo giáo lý PG không được quan tâm vì phần nào nó được cho là sự mơ hồ của thần bí phương Đông. Ngoại trừ một vài nhóm Phật tử còn tồn tại (như vùng Broome và đảo Thursday), tôn giáo này hầu như biến mất ở Úc.

    Một nhóm nhỏ Phật tử người phương Tây công nhận hình thành sớm nhất được biết là Hiệp hội PG Úc, Hội Bánh xe Pháp ở Melbourne năm 1925. Thế nhưng, tiến trình đó phát triển rất chậm như vậy cho đến sau Thế chiến thứ hai, khi mà tính cục bộ địa phương trong chính sách của người da trắng có phần thuyên giảm. Năm 1951, Tỳ kheo ni đầu tiên thăm nước Úc, Sư cô Dhammadinna, sinh ở Mỹ, thọ giới và có 30 năm tu hành ở Sri Lanka, đến để truyền bá giáo lý PG trường phái Theravada. Cô được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin rộng khắp nước Úc.

    Được truyền cảm hứng từ cuộc viếng thăm đó, một năm sau, Hội PG New South Wales được thành lập do ông Leo Berkley làm Chủ tịch. Ông là một doanh nhân Sydney gốc Đức. Tổ chức này cho đến nay là hội PG xưa nhất nước Úc. Những thành viên của nó trước đây và ngày nay vẫn là những người thương thảo chính với người Anglo-European bản địa.

    Năm 1958, một Liên đoàn PG được thành lập để tập hợp tất cả các tổ chức PG phát triển khắp nước Úc như miền Đông, miền Nam, vùng Queensland và Victoria.

    Phật tử ngày nay ở Úc có được là nhờ 100 năm đầu của những người Phật tử tại gia cộng với những chuyến viếng thăm đặc biệt của các vị Tăng sĩ PG. Thế nhưng, vào thập niên 1970, số lượng Phật tử tăng lên đã đòi hỏi cần phải có những Tăng sĩ người bản địa và một giai đoạn PG mới ở Úc bắt đầu.

    Năm 1971, Hội PG New South Wales được một vị sư Sri Lanka, Somaloka, thành lập tại trung tâm tu hành ở núi Blue phía Tây Sydney. Nó trở thành tu viện đầu tiên của nước Úc. Những tu viện nối tiếp nhau ra đời, biểu thị những diện mạo khác nhau của PG Úc, dần dần hình thành khắp nước: năm 1975 ở Stanmore, Sydney; năm 1978 ở Wisemans Ferry thuộc vùng New South Wales; và năm 1984 ở Serpentine miền Tây Úc.

    Một nhân vật có sức lôi cuốn mạnh của PG, Đức Đạt Lai Lạt ma, người đã chu du khắp thế giới để diễn thuyết và trả lời c3¡c câu hỏi của người nghe trong những hội trường lớn có sức chứa 20.000 người. John Cleese tuyên truyền về ngài, London, Henri Cartier-Bresson ghi âm và truyền bá lời dạy của ngài khắp nước Pháp và Adam Yauch của ban nhạc pop Beastie Boys cũng đã phỏng vấn ngài ở Rome cho tạp chí Rolling Stone.

    Trong những năm vừa qua, ngài đã mở 11 văn phòng ở khắp nơi, từ Canberra đến Moscow. Năm ngoái, ngài đã viết lời tựa và lời nói đầu cho khoảng 30 đầu sách đang phác thảo. Vị Lạt ma thứ 14 này, người được mệnh danh là Biển trí tuệ, người nắm giữ hoa sen trắng và người bảo vệ đất tuyết, được chủ bút tờ báo Vogue của Pháp tiếp đón như một vị khách quý.

    Ba lần viếng thăm nước Úc của Đức Đạt Lai Lạt Ma vào các năm 1982, 1992 và 1996 là những sự kiện vui mừng của giới Phật tử thuộc tất cả trường phái. Từng đám đông Phật tử và quần chúng đã tập trung nghe ngài nói chuyện. Trong lần viếng thăm thứ ba, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn được Thủ tướng Úc, John Howard, tiếp đón và chụp hình chung. Điều đó là bằng chứng rõ rằng trong giai đoạn này, PG đã trở thành một tôn giáo của dân thiểu số có ý nghĩa đối với nước Úc.

    Trong chuyến viếng thăm này, những nhân vật nổi tiếng địa phương đã đóng góp cho quỹ phát triển hoạt động. Những Kate Ceberano, Rachel Berger và Frente cũng chỉ là những người trong số các chủ trang trại nổi tiếng tại phòng khách của ngài. Họ đã giúp kêu gọi đóng góp 14.000 dollars trong ba đêm. Phòng thu thanh nhanh đã phát hành cuốn album phúc lợi có tên Mantra Mix CD, Jenny Morris, Jimmy Barnes và Johnny Diesel thủ vai chính. Một trung tâm quảng cáo địa phương đã cung cấp dịch vụ phát hành miễn phí.

    Thế nhưng, không chỉ có người Úc cảm thông với tình cảnh của ngài. Được sự quan tâm của Hollywood, hai bộ phim về cuộc đời ngài đang được dàn dựng. Cuộc đời của ngài không chỉ là một trào lưu chính mà đã phổ biến khắp toàn cầu. Cuốn phim được phát hành đầu tiên, Bảy năm ở Tây Tạng, kể về câu chuyện của Heinrich Harrer, nhà leo núi và đảng viên Đức quốc xg£, người đã cảm nhận được ý thức giải thoát của mình sau khi trở thành thầy giáo dạy cho Đức Đạt Lai Lạt Ma trẻ ở Tây Tạng trong những năm 1940. Bộ phim gây được sự chú ý mạnh mẽ bởi có sự tham gia đóng vai chính của diễn viên Brad Pitt.

    Một phim khác là Kundun, do Martin Scorcese đạo diễn. Bản thiên anh hùng ca này kể về một câu chuyện khác thường của đức Đạt Lai Lạt Ma theo quan điểm của ngài, như ngài từng thừa nhận là một hiện thân của lòng từ bi cao cả của Đức Phật, từ lúc ngài 2 tuổi cho đến khi sang Ấn Độ năm 24 tuổi. Ấn bản gần đây ở Úc đã được chương trình “Ngày Chủ nhật” của kênh 9 phỏng vấn ngày 14 tháng 6 và được mô tả như là “bộ phim quan trọng và đẹp nhất phát hành trong năm”.

    Sự đam mê của Hollywood đối với PG thể hiện qua hai bộ phim trên, với rất nhiều ngôi sao điện ảnh đã bày tỏ sự thích thú của mình đối với tôn giáo đó. Tháng 2 năm 1997, ngôi sao hành động võ thuật Karate Steven Seagall, được dòng Nyingma (Ninh Mã) của Phật giáo Tây Tạng thừa nhận là tái sinh của một vị Lạt ma ở thế kỷ thứ XV. Adam Yauch thuộc ban nhạc pop Beastie Boys đã tổ chức hai buổi biểu diễn để tạo chú ý đến PG.

    Ngôi sao điện ảnh Richard Gere, cùng với cha của Uma Thurmans, Richard Thurman, đã mở nhà in Tây Tạng ở New York, xuất bản sách theo từng chủ đề, và tờ nhật báo Thiền. Những người đang tu tập theo PG khác đáng được để ý đến bao gồm Tina Turner, Harrison Ford (vợ ông là Melissa Mathison, người viết kịch bản phim Kunduns), Oliver Stone, Herbie Han*****, Courtney Love, nhạc sĩ Philip Glass (người tham gia trong phim Kundun) và ca sĩ Michael Stipe.

    Động lực thúc đẩy PG phát triển là từ nước ngoài. Một phong trào mới được hình thành và được quảng bá như Zen blush, những tiết mục trên truyền hình như Dharma and Greg, những chiếc hộp dựng trái cây được thiết kế với dòng chữ: “Làm ơn sử dụng lại chiếc hộp, nó cũng xứng đáng được tái sinh”, các Tăng sĩ cũng đã xuất hiện trên các chương trình truyền hình thương mại và các mục tin.

    Chương trình quảng cáo mới đây, như thế, không thể chối bỏ rằng người Úc đã lẳng lặng quay trở về với PG lúc nào rồi. Những số liệu thống kê trong những năm 1986, 1991 và 1996 từ những cuộc điều tra dân số trên toàn quốc của chính phủ đã ủng hộ quan điểm cho rằng số lượng người theo PG đang tăng một cách đều đặn. Trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1997, lượng người tu tập đã tăng từ 80.387 lên 139.847, tỷ lệ tăng là 70%. Do lượng người nhập cư trong những năm gần đây giảm nên mức tăng trưởng số lượng người theo PG chậm theo, từ 1991 đến 1996 chỉ đạt 43%, từ 139.847 lên 199.812. Tuy vậy, tốc độ đó vẫn cao hơn tất cả các tôn giáo khác.

    Ba cuộc điều tra dân số đều chỉ ra rằng, tám giáo phái Cơ Đốc giáo trong danh sách nghiên cứu của vùng New South Wales thì chỉ có ba giáo phái là có tăng lên về số lượng (Baptist, Catholic and Orthodox), trong khi năm giáo phái khác (Anglican, Church Of Christ, Lutheran, Presbyterian và Uniting Church) lại giảm.

    Phải chăng sự dao động về nhân khẩu giữa PG và Cơ Đốc giáo đã chỉ ra sự bất mãn với niềm tin tôn giáo truyền thống của người Úc? Có phải PG có sức cạnh tranh mạnh hơn Cơ Đốc giáo hay có một thực chứng tâm linh ý nghĩa hơn những thứ khác?

    Trong số lượng 199.812 người theo PG trên khắp nước Úc ngày nay, có chừng 30.000 là người Anglo-European, những người đã “bỏ thánh giá” để chọn thứ triết lý này thay thế. Họ đã thay đổi từ “người có tội với Chúa” thành người “thần bí phương Đông”. Việc giảm lượng người nhập cư hình như không đủ để ngăn cản sự phát triển liên tục của PG Úc, đặc biệt là sự ủng hộ của địa phương đã có Phật giáo hình thành. Trở lại năm 1938, một tu sĩ PG thuộc dòng Shinto Nhật Bản nhấn mạnh việc Trung Hoa có đến ba thế kỷ để chấp nhập sự du nhập của PG đến từ Ấn Độ và cho rằng việc giới thiệu PG cho người phương Tây giống như cắm một đóa sen trên đá và chờ nó ra rễ.

    Vào thời kỳ mà chòm sao Bảo bình quét qua thế giới với phong trào hippy lập dị phản văn hóa, thế giới đã xuất hiện không ít những nhà thơ, họa sĩ, ca sĩ, nhà văn và nhạc sĩ đã để tâm đến một tiến trình làm bình yên nội tâm thông qua giáo lý PG và thực hành Thiền. John Lennon đã đưa những câu chú vào trong lời bài hát của mình, như bài Across the Universe. Allen Ginsberg cũng dùng những câu chú để trì vào đất ở Woodstock trước khi những người hâm mộ đầu tiên kéo đến. Triết lý Thiền cũng vậy, được phong trào thơ Beat trong thập niên 1950 đón nhận và gây ảnh hưởng khắp các quốc gia phát triển, như một sự lựa chọn lành mạnh với tinh thần giải thoát.

    Quan trọng hơn nữa là chất liệu kích thích của thập niên 1960, khi chiến tranh Việt Nam lên đến đỉnh điểm, những người phản đối chiến tranh đã đốt áo quần của họ và con người đã “đặt chân lên mặt trăng”, đã nhìn thấy sự nới lỏng trong những nguyên tắc truyền thống của tầng lớp trung lưu bằng việc chấp nhận sự linh hoạt cao hơn trong ý thức cộng đồng. Trong khoảng thời gian đó, con người đã có những phương tiện và sự tự do tốt đẹp hơn để thử nghiệm tư tưởng của những trường phái mới (như tư tưởng nam nữ bình đẳng, quyền công dân, phong trào hòa bình, chọn phong cách sống, v.v…) mà không phải chịu khốn khó như những sự chia rẽ xã hội trong quá khứ.

    Theo Đức cha Phillip Hughes, nhà nghiên cứu tôn giáo bản địa ở Melbourne, “trong thập niên 1960, rất nhiều người nghĩ rằng khoa học tự nó không đủ tư cách để giải thích thực tại, thế nhưng khi họ không có ý trở lại truyền thống Cơ Đốc giáo với những cuốn Thánh kinh, những phép mầu,… của nó. Cũng vậy, nhu cầu về một cảm giác bình an đã trở nên rất rõ ràng”.

    Những người Phật tử đầy năng động bị hấp dẫn bởi giáo pháp Phật Đà không những tránh được sự hỗn mang và lộn xộn của thế giới này, mà còn sáng tạo lại năng lực tự thân bằng sức mạnh tâm linh đầy ý nghĩa của mình trong xã hội tiêu thụ kỹ thuật cao, nặng óc kinh doanh, bạo lực và lạnh lùng. So với đức tin Cơ Đốc giáo mà những người Úc Anglo-European từng lớn lên với nó, PG không yêu cầu tín đồ của mình trung thành với một giáo điều nhất định.

    Đối với người Úc nói riêng và người phương Tây nói chung, PG không là một đức tin. Chính xác, nó cũng không phải là một tôn giáo, mặc dù khi thảo luận về hệ thống thờ tự, nó dễ dàng được gắn cho cái tên như thế. Nó nặng về tâm lý học và triết học, được khoác lên mình những nguyên tắc tâm linh của vấn đề tu dưỡng tâm tính.

    Người sáng lập đạo Phật, Siddhartha Gautama (sinh năm 536 tr. TL) đã rời bỏ dòng dõi hoàng tộc, nơi Ngài đã sinh ra, để chọn cuộc sống của một nhà tu hành khổ hạnh. Năm 35 tuổi, Ngài đắc đạo, “nhìn vạn vật như đúng như nó”, đã chứng đắc Vô ngã hoàn toàn, ở đó Ngài không còn thấy có cảm giác của sự ham muốn hay khát ái.

    Ngài trở thành vị Phật và nhanh chóng giảng dạy cho các đệ tử của mình rằng Ngài không phải là một vị thần, không cần phải sùng kính, không cần nhiều lễ nghi, mà nên truyền bá giáo pháp của Ngài. Thiên đàng và địa ngục, Ngài dạy, chẳng phải là những nơi ở bên ngoài mà chúng ta phải đến sau khi chết; chúng thực sự không tồn tại. Đúng ra, thiên đàng và địa ngục ở trong tâm của chúng ta. Con người hoặc tốt hoặc xấu, hoặc thiện hoặc ác. Thiên đàng hiện hữu trong tâm chúng ta, ngay trước mắt, mà chẳng có một nơi đến nào cho đời sau.

    Thiền, Ngài tuyên bố, là một tiến trình tu tập mà tất cả các hành giả phải trải qua để thành Phật. Nó là một trong những điểm khác biệt chính giữa PG so với những tôn giáo khác. Người tu hành phải đạt đến mục đích cuối cùng, sự giải thoát tự thân, tương đương với mức độ chứng ngộ của Đức Phật. Ngài dạy, mọi người có đủ khả năng để đạt được điều đó, và đưa ra sự bình đẳng đối với tất cả các đệ tử của Ngài.

    Đó là bài học đầu tiên cho những người có gốc Cơ Đốc giáo khi họ bắt đầu nghiên cứu những giáo lý cơ bản của PG. Điều tốt nhất cho một người trung thành với Cơ Đốc giáo là nên hy vọng đạt được bằng sự thành tâm để được lên thiên đàng như thiên thần, nơi mà anh ta vẫn còn lệ thuộc vào ý chí của đấng tối cao, người có thể trừng phạt anh ta lúc nào Ngài muốn. Đức Phật dạy, các đệ tử của mình cũng có thể thành Phật như Ngài, đó là lý do tại sao Ngài không cho mình là một vị thần. Trong PG, không có một trật tự cố định cho đời sống sau, bởi vì đó chỉ là ước muốn của cái tôi trong thời hiện tại, cái mà đời sống của một người Phật tử luôn cố gắng từ bỏ dần.

    Đạo Phật loại trừ ý niệm về một đấng tối cao, giống như khoa học, và giải thích nguồn gốc và sự vát¬n hành của vũ trụ theo quy luật của tự nhiên. Tất cả những gì đã nói hiển nhiên biểu thị tinh thần khoa học. Đức Phật khuyên chúng ta không nên tin Ngài một cách mù quáng mà phải đặt câu hỏi, thử nghiệm, điều tra và chỉ tin vào sự thực chứng của bản thân.

    Cách tiếp cận khoa học của luật nhân quả không thể qua được cái nhìn của nhà bác học Albert Einstein trong thập niên 1930:

    “Tôn giáo của tương lai phải là một tôn giáo toàn cầu”, ông nói, “nó phải vượt lên mọi thần linh, tránh xa tín điều và thần học, bao trùm cả tự nhiên lẫn siêu nhiên, nó phải được dựa trên một ý thức đạo lý, xuất phát từ sự nhận thức về vạn vật, tự nhiên và tinh thần, cùng một sự thống nhất đầy ý nghĩa. PG đáp ứng được những điều kiện đó. Nếu như có một tôn giáo nào có thể đáp ứng được những nhu cầu của khoa học, thì đó phải là PG”.

    Khi mà chiều hướng đối nghịch với đạo Phật đã đi từ thành công này đến thành công khác trong thập niên 1980 thì cũng chẳng phải luôn là một đối trọng. Đó là, trong nguyên tắc vô thần của PG, cái mà ký giả có thể tìm thấy trong những lời phát ngôn đối nghịch và không chính thức đối với PG. Cốt lõi bất đồng trong Thần học là nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn với các tôn giáo khác.

    Vào ngày thứ Tư, 18 tháng Giêng năm 1995, Giáo hoàng John Paul II đã đến Sydney để tham gia cuộc họp với những người có tín ngưỡng khác nhau trong vùng Sydney. Những đại biểu các tôn giáo chính như Tin Lành, Chính Thống giáo, Giáo hội Thiên Chúa giáo Ai Cập, Do Thái giáo, Islam giáo đều được mời để cùng chia sẻ tinh thần của một bản tuyên ngôn với ngài. Điều đặc biệt chú ý ở đây là sự vắng mặt của một tôn giáo lớn thứ ba ở Úc, PG.

    Những nhà tổ chức đã nói với Đài SBS rằng họ không biết PG là tôn giáo lớn thứ ba ở Úc và bên cạnh đó, PG không có người lãnh đạo tầm cỡ quốc gia, vậy họ sẽ mời ai? Tờ báo The Sydney Morning Herald đăng tin rằng “có ai đó trong chính phủ đã quên mời những người PG”. Điều đó không hẳn đúng, trong khi chính quyền New South Wales nhận thức rất rõ về sự hiện hữu của những người Phật tử trong tiểu bang mình và họ thường mời các đại biểu PG tham gia các buổi họp mặt trong tiểu bang. Hơn nữa, lời giải thích của vị đứng đầu Vatican tỏ vẻ thiếu sự kính trọng PG, như đoạn trích dẫn sau, được trích ra từ cuốn Bước qua ngưỡng cửa Hy vọng của ngài:

    “PG, theo cái nhìn rộng rãi, là một hệ thống “vô thần”. Chúng ta không giải thoát chính mình khỏi sự dữ nhờ sự thiện đến từ Thiên Chúa; chúng ta chỉ giải thoát chính mình bằng cách thoát ra khỏi thế giới xái¥u ác này. Hành động tách rời hoàn toàn như thế không phải là sự thông hiệp với Thiên Chúa, thế nhưng cái gọi là Niết bàn thì chỉ là một trạng thái thờ ơ trước thế giới. Ơn cứu độ trên tất cả là sự giải thoát khỏi sự dữ, bằng cách hoàn toàn tách khỏi thế giới huyễn tượng chính là nguồn sự dữ. Thuyết Thần học Cơ Đốc giáo sinh ra từ sự thiên khải của Chúa Trời bất diệt. Chúa mở lòng mình để hợp nhất với con người, gợi lên trong con người năng lực thông hiệp với Thiên Chúa, đặc biệt bằng cách sử dụng niền tin – đức hạnh, hy vọng và trên tất cả là tình yêu Thần học”.

    Graeme Lyall, Chủ tịch Ủy ban PG New South Wales đã mạnh mẽ bác bỏ lập trường của Thiên Chúa giáo. “Từ điển Oxford định nghĩa: “atheism” là “không tin vào sự hiện hữu của Chúa'”, ông nói, “Đức Phật được cho là vị thầy của trời và người”, như vậy tại sao có thể cho Phật giáo thuộc hệ thống “vô thần”? Những luận cứ tôn giáo thường lảng tránh việc sử dụng ngôn ngữ tôn giáo. Chúng ta phải xác định chắc chắn cái gì chúng ta đang tham khảo và khi nào thì sử dụng thuật ngữ “Chúa”.

    Chúa Trời bất diệt là gì? Tất cả những gì đang sống đều đi đến cái chết và suy tàn, vậy tại sao chúng ta lại đặt cuộc đời mình vào trong tay của cái gì đó giống chúng ta, mà cho là vĩnh viễn? Nếu Chúa được xem là một ông già có bộ râu trắng ngồi ở trên trời và ghi vào trong cuốn sổ nhỏ màu đen của mình ngày phán xét, thì Chúa tự đặt mình ra ngoài bước đi của tư tưởng Thần học hiện đại và của hầu hết các nhà thần học khác.

    Những nhà thần học hiện đại, như Paul Tillich thừa nhận rằng thuật ngữ “Chúa” để ám chỉ một sinh vật trên mặt đất, một sự tồn tại rất thực. Không có một Phật tử nào có ý định tranh luận về điều này, mà họ chỉ có thể miễn cưỡng sử dụng thuật ngữ “Chúa” để miêu tả nó.

    Ngụ ý của công việc đó nói rằng Giáo hoàng không có biểu hiện gì khác ngoài việc lên gối phòng tháT§, khi bạn cho rằng những phẩm chất của Giáo hội Vatican tự nó bị tuột dốc vì vấn đề đó. Cha William Johnston, gốc Ireland, một tu sĩ dòng Tên, tỏ sự đồng cảm của mình với Phật giáo khi ông đến thăm Sydney vào đầu tháng Giêng năm 1997. Trong hội nghị về tôn giáo, văn học và nghệ thuật ở Trường Đại học Thiên Chúa giáo, Úc, ông đã nói với các Giáo hội Cơ Đốc giáo cần phải giới thiệu các lĩnh vực thần bí phương Đông – như thiền, yoga, Thiền Nhật Bản nếu họ muốn tín đồ đến xưng lễ hàng tuần tăng lên.

    “Nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo lo lắng về Thiền nhưng có rất nhiều thứ để học từ nó, yoga và Thiền Nhật Bản, ông nói: “Giáo hội Thiên Chúa giáo phải luôn luôn duy trì Thiền một cách mạnh mẽ trong những điều luật tôn giáo của mình; vấn đề của chúng ta là không dạy nó cho những người ngoài, những người hiện đang tìm kiếm nó”.

    Cha Johnston, Viện trưởng Học viện Nghiên cứu các tôn giáo phương Đông tại Trường Đại học Sophia ở Tokyo, đã sống ở Nhật từ năm 1951, nghĩ rằng giáo lý Cơ Đốc đã trở nên “quá nguyên tắc”, với quá nhiều thứ được làm, không được làm và không đủ tầm nhìn, không thể giác ngộ.

    Ngoài những phản ứng song phương của Giáo hội Thiên Chúa giáo với PG, sự chống đối ở địa phương đối với sự thâm nhập của thần bí phương Đ”´ng cũng đã xuất hiện ở thị trấn sản xuất thép Wollongong, cách Sydney vài giờ ô-tô. Một giáo sĩ Anh giáo ở Wollongong, Cha Reg Piper, vốn có ảnh hưởng lớn trong cuộc tranh luận, đã bày tỏ sự phiền muộn của mình bởi không chỉ sự hiện hữu của PG mà là sự hiện diện của một thứ triết lý mà ông xem như là tội lỗi!.

    Cuộc tranh luận bắt đầu khi một tổ chức PG của Đài Loan, Phật Quang Sơn, bắt đầu xây dựng một tu viện khổng lồ trị giá 50 triệu dollars phía Nam thành phố sản xuất thép Berkeley. Các Tăng sĩ đã lên kế hoạch xúc tiến một phong cách nhân văn PG của họ nhằm nhấn mạnh “tính thống nhất và cùng tồn tại trong ngôi làng chung toàn cầu”.

    Phật Quang Sơn được hình thành giữa thập niên 1950 và có hơn 100 chi nhánh trên khắp thế giới với 1,5 triệu thành viên và các trường đại học, nhiều trường học, ngân hàng hiến tặng tạng người, nhà dưỡng lão, và cả nghĩa địa. Việc phát triển đó gắn liền với người thầy sáng lập ra nó, Hòa thượng Tinh Vân. Quy mô của tu viện Nam Thiên ở Wollongong chỉ đứng sau cơ sở trung tâm chính ở Đài Loan.

    Sự quan tâm của Giám mục Piper không được những Giáo hội Thiên Chúa giáo chia sẻ, chẳng hạn như Giáo hội Uniting địa phương vốn không gây trở ngại cho qua trình truyền bá của tu viện. Vào ngày thứ Ba, 18 tháng 6 năm 1996, Giám mục Piper đã xuất hiện trong bản tin lúc 7:30 của Đài ABC để bày tỏ sự phản đối của mình.
    Giám mục Piper: Nhìn xem, khi chúng ta có quan điểm của Thánh kinh về nhân loại, nhìn chung, nếu nó vượt khỏi khuôn khổ của sự thật thì Thánh kinh dùng thuật ngữ sự dữ.

    Phóng viên: Phải chăng đó là một sự lừa bịp?

    Giám mục Piper: Trong khía cạnh đó, đúng. Khi mà nó không được dựa trên nền tảng chân lý của Chúa Jésus, nó chỉ có thể là sự lừa bịp. Bởi vì PG xây dựng trên nền tảng tôn giáo vô thần. Họ không có Thượng đế.
    Phóng viên: Tại sao đó lại là vấn đề?

    Giám mục Piper: Bởi vì Thượng đế đã hóa thân mình qua Chúa Jésus. Chúa Jésus đã sống lại sau khi chết. Ngài nói Ngài là Thượng đế. Không có con đường nào khác để đến với sự thật và cũng không có con đường nào khác để sống ngoại trừ việc nhờ vào Chúa Jésus.

    Tính hiếu kỳ ngày càng tăng đối với PG đã làm cho Giám mục Piper lo lắng và ông đã cho xuất bản một cuốn video Tìm về Thiên đàng – Sự trả lời của Thánh kinh cho Phật giáo (In Search Of Paradise – A Biblical Response To Buddhism) với ý làm thay đổi ý nghĩ của họ.

    Thượng tọa Shin ở tu viện Nam Thiên vẫn thấy khó hiểu với thái độ của Giám mục Piper. “Chúng tôi không làm cho họ theo PG hay làm thay đổi tôn giáo của họ”, ngài nói, “Chỉ cần mọi người cảm thấy thoải mái với bất cứ bài thực hành nào hay bất cứ niềm tin nào, nếu nó tốt cho xã hội, tốt cho mọi người và cho gia đình thì đó là thứ quan trọng nhất. Họ có quyết định trở thành Phật tử hay không, chúng tôi không quan tâm”.

    Sự phản đối trong địa phương đã lan rộng đến giới tu sĩ Thiên Chúa giáo. Cuộc khảo sát do một cơ quan liên bang về vấn đề đa văn hóa tiến hành đã ghi nhận 41% trong tổng dân số không muốn có bạn đồng nghiệp là một Phật tử. Chỉ có Islam giáo là ở trong tình trạng xấu.

    Mặc dù thế, ngày Chủ nhật, mùng 8 tháng Hai năm nay, Phật tử Úc rất hân hoan khi biết rằng một người bạn, Toàn quyền Úc, ông William Deane, đã bày tỏ sự ủng hộ việc mở một chi nhánh của phái Lahula ở Canberra.

    “Bản tường trình của Cục Quản lý người nhập cư, nghiên cứu dân số và vấn đề đa văn hóa hai năm trước, cho thấy trong khoảng 10 năm đến 1991, PG là tôn giáo phát triển nhanh nhất ở quốc gia chúng ta: mức tăng khoảng 300%”, ông nói, “Ở một mức độ nhất định, tất nhiên, những con số đó phán ánh tình hình tăng lên liên tục cộng đồng người nhập cư từ vùng Đông Nam Á trong suốt thời kỳ đó. Thế nhưng, cộng đồng người lớn thứ nhì theo PG là người dân sinh ra ở Úc – nhiều người trong đó không thuộc những vùng văn hóa châu Á – bị hấp dẫn bởi triết lý và lối tu tập PG vốn nhấn mạnh đến việc tìm kiếm sự bình yên nội tâm và hiểu biết. Tôi muốn gửi đến lời chúc tốt đẹp nhất đến sự thành công cho tất cả những gì mà chúng ta hy vọng đạt được trong những năm tới. Nguyện cho mọi nỗ lực của các bạn thành công và mang niềm vui đến cho mọi người đang mong chờ giúp đỡ”.

    PG vẫn tiếp tục phát triển chậm và chắc như mức độ lan tỏa của cỏ cây. Theo Thượng tọa Pannyavaro, vị Tăng sĩ sống trên đồi Surry ở Sydney, giới trẻ đang cảm thấy PG rất hấp dẫn bởi vì họ đang mong đợi có một sự thay thế nhà thờ Thiên Chúa giáo đã thành hình và họ có thể khám phá PG mà không phải chịu ơn ai khi tham gia. “Rất nhiều thanh niên trong độ tuổi 20 đến 35 tìm đến với PG, bởi vì họ cảm thấy không bị buộc phải làm gì”, Thượng tọa nói, “và trình độ Thiền càng thâm sâu thì họ càng có thể nâng mình lên cao”. Thượng tọa mở một trang web (http://www.buddhanet.net) và có khoảng 50.000 lượt người truy cập mỗi ngày. Thượng tọa Pannyavaro đưa ra ý tưởng cyber-nirvana trên trang web khi hình thành những chương trình Thiền trực tuyến trên mạng, nơi mọi người có thể vào, trầm tư và suy nghĩ về thế giới vô tận.

    Hiện nay có hơn 90 ngôi chùa và tổ chức PG ở New South Wales, trong đó Sydney chiếm 65 địa chỉ. Khoảng 200 người hàng tuần viếng thăm thư viện PG, Trung tâm Thông tin và Thiền định ở Camperdown, Sydney. Họ ở lứa tuổi 30 đến 50, khoảng 80% trong số đó là người không có gốc châu Á.

    Giới tu sĩ Thiên Chúa giáo phải giật mình (nếu khi nào đó họ nhận ra), PG còn được đưa vào dạy tại một trường tiểu học nào đó ở New South Wales trong các lớp dạy về kinh điển tôn giáo. Khoảng đầu năm 1995, một nhóm phụ huynh của Trường Tiểu học Blackheath đã kiến nghị với thầy Hiệu trưởng, Kate Allan, yêu cầu nhà trường cung cấp kiến thức về PG cho học sinh lựa chọn giống như sự lựa chọn các giáo lý Thiên Chúa giáo truyền thống, Tin Lành. Hiện nay đã có 45 trường với 350 học sinh tham gia lớp học giáo lý PG.

    Allan nói: “Càng nhiều tôn giáo lớn đến, chúng tôi càng có nhiều loại hình và nó làm tăng khả năng chọn lựa của các bậc phụ huynh. Nó không có gì ràng buộc đối với toàn trường”.

    Trả lời câu hỏi về sự phát triển của PG trong dân chúng, rõ ràng sẽ tr »Ÿ nên một kết luận phong phú và liên quan. Với cái nhìn lướt qua đầu tiên, tôn giáo này dường như đang có một sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn thế giới. Chỉ khi bạn nghĩ rằng mình đã nghiên cứu bài viết này một cách toàn diện, tức khắc bạn nhận ra ngay rằng mình mới chỉ nhìn vào phần chóp của tảng băng chìm.

    Quảng Tuấn dịch

Đăng ngày: 2019-08-29 12:29:39

Lượt xem: 95

VIDEO MỚI
HÌNH ẢNH SINH HOẠT
Liên kết